Đường dây nóng Bệnh Viện: (028) 38586257 - Sở Y Tế: 0967 77 1010 - Ngành Y Tế: 1900 9095

Nhận dạng 6 rào cản đối với hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện

Thứ năm, 22/10/2020, 07:28:16 Lượt xem: 64

Nhận dạng các rào cản trong hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện sẽ giúp các nước đang phát triển chủ động hơn khi phát triển hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện. Dưới đây là nhận định 6 rào cản đối với hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện tại các nước có thu nhập trung bình và thấp trên thế giới qua công trình nghiên cứu đánh giá hệ thống với tiêu đề  “Identifying barriers for out of hospital emergency care in low and low-middle income countries: a systematic review” được đăng trên Tạp chí BMC Health Services Research (2018).

Cấp cứu ngoài bệnh viện (Out of Hospital Emergency Care - OHEC), thường được hiểu là người bệnh được chăm sóc cấp cứu trước khi đến bệnh viện thường là các vấn đề sức khoẻ cấp tính. Trước đây, khi mà các nước thu nhập trung bình thấp không có hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện chính thức, gần 80% trường hợp tử vong do chấn thương nghiêm trọng xảy ra trong môi trường bên ngoài bệnh viện. Ngày nay, phát triển các hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện đã được xem là một thành phần không thể thiếu của hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Cấp cứu ngoài bệnh viện bao gồm một chuỗi các hoạt động cấp cứu từ sơ cứu tại chổ, đến can thiệp cấp cứu ngoài bệnh viện, cho đến các dịch vụ y tế khẩn cấp (EMS). Chỉ có khoảng dưới 1% dân số ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp (LIC) có thể tiếp cận các dịch vụ vận chuyển y tế, như xe cứu thương. Ở Châu Phi vùng cận Sahara và Châu Á, một số ít người tiếp cận được  vào phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện, nhưng thường là dùng để vận chuyển giữa các cơ sở y tế chứ không phải từ hiện trường thương tích. Có đến 60% dân số tại các nước LMIC sống cách cơ sở y tế hoặc bệnh viện với khoảng cách hơn 8 km. Chính do sự khan hiếm của các cơ sở cấp cứu tại các nước này, hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện lại càng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống còn của bệnh nhân.

Qua đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến triển khai hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện, các tác giả đã đưa ra 6 rào cản thường gặp tại các nước LMIC như sau:

Rào cản 1:  Văn hóa/Cộng đồng (Culture/Community)

Sự khác biệt trong văn hóa và tác động đến hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe. Ví dụ, một số nghiên cứu đã ghi nhận một khi bệnh nhân nhận ra nhu cầu về chăm sóc y tế, việc quyết định tìm kiếm sự chăm sóc không chỉ là của riêng họ; mà có thể bị ảnh hưởng bởi mẹ chồng hoặc họ hàng, hoặc già làng. Đối với một số vùng, các phương pháp điều trị truyền thống quen thuộc được ưa thích hơn so với các phương pháp điều trị mới chưa được áp dụng rộng rãi trong cộng đồng. Kiến thức và khả năng nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm là một vấn đề trọng tâm khác mà nhiều công trình nghiên cứu đã đút kết được, bệnh nhân thường không biết khi nào nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức.

Rào cản 2: Cơ sở hạ tầng

Mạng lưới đường xá và tình trạng đường kém là những cản trở phổ biến nhất. Các vấn đề khác góp phần vào rào cản này bao gồm: phải chia sẻ đường giữa các phương tiện công cộng và khẩn cấp, thiếu biển báo giao thông, mặt đường bị xói mòn và hẹp. Những khó khăn theo mùa, chẳng hạn như khó đi qua các con đường trong mùa mưa, cũng thường được ghi nhận. Ngoài cơ sở hạ tầng kém làm giảm khả năng tiếp cận chăm sóc kịp thời, xe cứu thương cũng góp phần làm tăng tần suất tai nạn giao thông và làm tăng mối lo ngại khi vận chuyển bệnh nhân an toàn đến các cơ sở y tế. 59% các nghiên cứu cũng chỉ ra bệnh nhân được điều trị đầu tiên bởi một cơ sở y tế không phù hợp với mức độ chăm sóc cần thiết và 47% nghiên cứu cho thấy một trung tâm y tế khẩn cấp không có sẵn.

Rào cản 3: Truyền thông/Phối hợp

Chỉ 39% các nghiên ghi nhận có số điện thoại được chỉ định để gọi kích hoạt hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện (EMS) và 19% các nghiên cứu cho thấy không có phương tiện để kích hoạt hệ thống EMS khi cần hỗ trợ cấp cứu. Hai nghiên cứu (6%) ghi nhận rằng bệnh nhân hoặc người thân của họ phải đi bộ đến bệnh viện hoặc phòng khám gần nhất để được giúp đỡ. Còn tình trạng bệnh nhân phải liên lạc với các bác sĩ địa phương, nhưng không được giới thiệu ngay đến một trung tâm điều trị thích hợp. Các rào cản khác đã được ghi nhận bao gồm: thiếu hiểu biết về số điệ thoại cấp cứu, độ tin cậy của số điện thoại cấp cứu, thiếu tin tưởng về sự hỗ trợ khi gọi, thiếu niềm tin của công chúng vào hệ thống cấp cứu ngoài bệnh viện và thiếu số điều phối cấp cứu thống nhất. Ngoài ra, do thông tin người gọi không đáng tin cậy, rất khó để xác định lại vị trí chính xác, liên lạc giữa đội cứu thương và bệnh viện tiếp nhận thường bị hạn chế hoặc không có phối hợp giữa đội cấp cứu ngoại viện với khoa cấp cứu của các bệnh viện.

Sự phối hợp và quản lý các hệ thống EMS được ghi nhận là một rào cản trong gần một nửa số công trình nghiên cứu, (48%). Xe cứu thương thường không có sẵn khi được yêu cầu. 1/4 các nghiên cứu xác định còn thiếu trung tâm tiếp nhận cuộc gọi và điều phối trong hệ thống cấp cứu hiện tại. Các thiếu sót bao gồm sự thiếu hoàn toàn hoặc không đầy đủ của trung tâm điều phối cuộc gọi, thiếu đào tạo cho người điều phối hoặc chậm trễ trong thông tin chuyển tiếp thông tin. Sàng lọc cũng được xác định là một rào cản được ghi nhận trong 19% công trình nghiên cứu.  

Rào cản 4: Vận chuyển

Hầu hết các nghiên cứu cho thấy  xe cứu thương là một trong những phương tiện chính để vận chuyển bệnh nhân (71%). Tuy nhiên, vẫn còn sử dụng các phương tiện thay thế như thuê ô tô (5/31), taxi (8/31), xe máy (3/31), xe đạp (2/31), xe kéo (1/31), xe buýt vận tải công cộng (5/31), và xe kéo (lừa, ngựa hoặc bò) (4/31) cũng có mặt. Tình trạng xe cứu thương không sẵn sàng vận chuyển bệnh nhân khi cần thiết cũng được ghi nhận. Một nghiên cứu của Ấn Độ cho thấy 35% bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện bằng xe cứu thương. Các tác giả cũng ghi nhận khoảng cách và thời gian cần thiết để đưa bệnh nhân đến bệnh viện là một thử thách. Việc triển khai thêm phương tiện cấp cứu chuyên dụng nhưng đơn giản như xe cấp cứu 2 bánh là phù hợp và phát huy hiệu quả đã được ghi nhận.

Rào cản 5: Trang thiết bị

Thiết bị được sử dụng trong đáp ứng cấp cứu chấn thương được xác định là rào cản trong 36% công trình nghiên cứu. Xe cứu thương của bệnh viện còn thiếu dụng cụ theo xe,  như bộ dụng cụ đốt, bảng cố định cột sống hoặc các thiết bị không hoạt động. Thông đường thở (21%), thiết bị hồi sức (21%) và thuốc cấp cứu thích hợp (29%) cũng bị thiếu. Trong một số trường hợp, nhân viên y tế đi lại trong xe cứu thương được yêu cầu mang theo thiết bị của riêng họ.

Rào cản 6: Nhân viên chuyên trách

Thiếu đào tạo chính quy là khó khăn phổ biến nhất. Hơn một nửa công trình nghiên cứu (18/31), lưu ý hệ thống y tế thiếu nhân viên lành nghề không thể nhận ra một trong hai dấu hiệu bệnh nghiêm trọng cần phải có mức độ chăm sóc cao hơn hoặc không biết xử lý và quản lý các trường hợp khẩn cấp. Ngoài ra, một số bệnh nhân diễn tiến xấu hơn do không nhận được điều trị phù hợp. Trong các hệ thống y tế thiếu người ứng cứu khẩn cấp, nhân viên khác như tài xế taxi, cảnh sát,… không được đào tạo đã đảm nhận nhiệm vụ phản ứng nhanh trong sơ cấp cứu người bệnh. Trong một phần ba các nghiên cứu cho thấy hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện được cung cấp bởi người không được đào tạo và chỉ 29% nghiên cứu cho thấy họ được đào tạo về sơ cứu. Chỉ 10% các nghiên cứu cho biết các nhà cung cấp dịch vụ cấp cứu ngoài bệnh viện được đào tạo. Hệ thống y tế trong đánh giá của chúng tôi cũng thiếu các tiêu chuẩn và quy định để hướng dẫn các dịch vụ cấp cứu ngoài bệnh viện.

Về phân bố 6 rào cản trong hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện: rào cản về nhân lực chuyên trách là phổ biến nhất (61%), kế đến là xe cứu thương và cơ sở hạ tầng (55%), truyền thông/phối hợp (45%), văn hoá/cộng đồng (39%) và trang thiết bị (29%). Ngoài ra, chỉ 1 nghiên cứu cho thấy chỉ có 1 rào cản, phần lớn các nghiên cứu cho thấy có sự phối hợp nhiều rào cản khác nhau.

Theo: SỞ Y TẾ TP.HCM